Bài thơ Nguyễn Khuyến đi câu mùa thu

10:02 | 02/09/2015
Tiểu sử nhà thơ
Phật Đạo Online: Nguyễn Khuyến, tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1835, tại quê ngoại làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Quê nội của ông là làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Mất ngày 5 tháng 2 năm 1909 tại Yên Đổ.

Cha Nguyễn Khuyến là Nguyễn Tông Khởi (1796-1853), thường gọi là Mền Khởi, đỗ ba khóa tú tài, dạy học. Mẹ là Trần Thị Thoan (1799-1874), nguyên là con của Trần Công Trạc, từng đỗ tú tài thời Lê mạt.Thuở nhỏ, ông cùng Trần Bích San (người làng Vị Xuyên, đỗ Tam Nguyên năm 1864-1865) là bạn học ở trường Hoàng giáp Phạm Văn Nghị. Nguyễn Khuyến nổi tiếng là một người thông minh, hiếu học. Năm 1864, Nguyễn Khuyến đỗ đầu cử nhân (tức Giải nguyên) trường Hà Nội. Năm sau (1865), ông trượt thi Hội nên phẫn chí, ở lại kinh đô học trường Quốc Tử Giám. Đến năm 1871, ông mới đỗ Hội Nguyên và Đình Nguyên (Hoàng giáp). Từ đó, Nguyễn Khuyến thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ.


Năm 1873, ông được bổ làm Đốc Học, rồi thăng Án Sát tại tỉnh Thanh Hóa. Năm 1877, ông thăng Bố Chính tỉnh Quảng Ngãi. Sang năm sau, ông bị giáng chức và điều về Huế, giữ một chức quan nhỏ với nhiệm vụ toản tu Quốc Sử Quán. Nguyễn Khuyến cáo quan về Yên Đổ vào mùa thu năm 1884 và qua đời tại đây.

Nguyễn Khuyến là người có phẩm chất trong sạch, mặc dù ra làm quan nhưng nổi tiếng là thanh liêm, chính trực. Nhiều giai thoại kể về đời sống đời sống và sự gắn bó của Nguyễn Khuyến đối với nhân dân. Ông là người có tâm hồn rộng mở, giàu cảm xúc trước cuộc sống và gắn bó với thiên nhiên.

Hoàn cảnh lịch sử

Nguyễn Khuyến ra làm quan giữa lúc nước mất nhà tan, cơ đồ nhà Nguyễn như sụp đổ hoàn toàn nên giấc mơ trị quốc bình thiên hạ của ông không thực hiện được.

Lúc này Nam Kỳ rơi vào tay thực dân Pháp. Năm 1882, quân Pháp bắt đầu đánh ra Hà Nội. Năm 1885, họ tấn công kinh thành Huế. Kinh thành thất thủ, Tôn Thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, nhân dân hưởng ứng khắp nơi. Nhưng cuối cùng phong trào Cần Vương tan rã.
Có thể nói, sống giữa thời kỳ các phong trào đấu tranh yêu nước bị dập tắt, Nguyễn Khuyến bất lực vì không làm được gì để thay đổi thời cuộc nên ông xin cáo quan về ở ẩn. Từ đó dẫn đến tâm trạng bất mãn, bế tắc của nhà thơ.



Tác phẩm

Các tác phẩm gồm có Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu thi văn tập, Cẩm Ngữ,"Bạn đến chơi nhà" và nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối truyền miệng.

Quế sơn thi tập khoảng 200 bài thơ bằng chữ Hán và 100 bài thơ bằng Chữ Nôm với nhiều thể loại khác nhau . Có bài tác giả viết bằng chữ Hán rồi dịch ra tiếng Việt, hoặc ngược lại, ông viết bằng chữ Việt rồi dịch sang chữ Hán. Cả hai loại đều khó xác định vì nó rất điêu luyện.
Trong bộ phận thơ Nôm, Nguyễn Khuyến vừa là nhà thơ trào phúng vừa là nhà thơ trữ tình, nhuỗm đậm tư tưởng Lão Trang và triết lý Đông Phương. Thơ chữ Hán của ông hầu hết là thơ trữ tình. Có thể nói cả trên hai lĩnh vực, Nguyễn Khuyến đều thành công.
 
Theo VH Hà Nam

 
Nguyễn Khuyến với bài thơ: Thu Điếu 

Nguyễn Hoài Vân

Bài Thu Điếu có tám câu như sau:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng nước theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
 
Hai câu đầu (câu khai) vẽ lên bối cảnh của toàn bài. Sách Gia Ngữ nói: “Thủy chí thanh tắc vô ngư”, nghĩa là “nước trong veo” thì không có cá, thế mà Nguyễn Khuyến, giữa trời thu lạnh lẽo, lại nhè lúc “nước trong veo” mà ngồi thuyền đi câu, thì thật là thất thế, là làm một việc khó khăn, ngược đời. Vậy, đặt tựa bài thơ là “câu cá mùa thu”, mà mới vào đầu bài đã cho thấy cái việc câu cá đó là chuyện gần như không thể đạt được thành quả, thì chẳng phải là đã vạch rõ cho ta thấy cái tình cảnh ngặt nghèo rất mực của tác giả rồi đó sao ? Nhà Nho Nguyễn Khuyến, đỗ đạt vào bậc nhất thời đó, làm quan to, nhưng trước cảnh nước mất, phải từ quan, về dạy học, nhìn ngoại nhân hoành hành, vua quan bạc nhược, chỉ biết theo Pháp cầu an, đã thấy rõ là cái hoài bão giúp dân giúp nước của mình, thật khó khăn, gần như vô vọng, chẳng khác nào cảnh “câu cá nước trong” được đề ra ngay từ câu đầu vậy. 


Hồ sen trong khu đền thờ nhà thơ Nguyễn Khuyến
 
Câu hai “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”, tựu trung chỉ làm rõ thêm cái ý của câu đầu. Thuyền trong ao thì đâu phải thuyền “bé tẻo teo” đối với ao ? Thuyền bé tẻo teo đối với mặt hồ rộng lớn, đối với biển cả mênh mông, thì còn có lý, chứ cái ao tự nó đã bé, thuyền đối với ao thì có chi mà phải bảo là “bé tẻo teo” ? Vậy, thuyền đây chính là cái thân phận của Nguyễn Khuyến, và chiếc thuyền ấy thật là “bé tẻo teo” đối với cảnh vật, Đất Trời, bao la, cũng như thân phận của tác giả “be tẻo teo” đối với cái thời thế thiên nan vạn nan phủ trùm lên ông vậy.       
 
Hai câu ba và bốn, còn được gọi là câu “thừa” (thơ Đường Luật gồm 2 câu khai, 2 câu thừa, 2 câu chuyển và 2 câu hợp, hay thâu). Hai câu “thừa” này thừa theo cái bối cảnh khó khăn vừa được phác họa trong hai câu đầu, mà đưa ra hai thái độ xử thế trước bối cảnh ấy:       
 
 “Sóng nước theo làn hơi gợn tí” tả cảnh mặt nước gợn sóng theo làn gió thổi. Nhưng, mặc dù gợn sóng, trong chiều sâu, nước vẫn là nước, ao vẫn là ao, không hề lay động, không hề suy suyển. Đó chính là thái độ của bản thân mình mà tác giả muốn được người đời thông cảm : trước thời thế khó khăn, ông đã phải từ quan, đã phải ngồi yên, thậm chí có lúc đã phải vào dạy học trong Dinh của ông quan thân Pháp Hoàng Cao Khải, nhưng, những điều đó chẳng qua chỉ là những gợn sóng, theo làn gió thổi mà thôi, chứ trong thâm tâm, trong chiều sâu, ông vẫn là ông, vẫn giữ vững hào khí của người quân tử, vẫn mang nặng lòng trung thành với tổ quốc.  
    
“Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo” là một thái độ mà Nguyễn Khuyến chối bỏ. Thật vậy, tuy cùng phản ứng trước làn gió thổi, nhưng nếu gợn sóng chỉ là một hiện tượng bề mặt, trong khi căn bản vẫn y nguyên, thì “lá vàng” hoàn toàn ngược lại. Lá vàng đã bị bứt khỏi cành cây. Nó chỉ còn biết phất phơ theo gió thổi, gió đưa về đâu thì nó về đó, để rồi rốt cuộc sẽ mục nát trên mặt đất. Từ khi lìa khỏi cành cây, “đưa vèo” theo gió, lá vàng đã không còn là một thành phần của cây nữa, khác với “sóng nước”, lúc nào cũng vẫn là nước, là thành phần của ao, của hồ, của sông, của biển. Vậy, hai câu ba, bốn, là lời tự bạch của tác giả : ta là sóng, gợn theo gió, nhưng lòng trung với “nước” vẫn không hề suy suyển, chứ chẳng phải như lá vàng kia, lìa căn bỏ cội, phải chịu hoàn toàn lệ thuộc ngọn gió, để rồi mục nát trên mặt đất mùa thu...     
  
Câu năm và câu sáu:   
   
Từng mây lơ lửng trời xanh ngát       
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
 
tức hai câu “chuyển”, được dùng để đưa cái tâm trạng vừa biện bạch ở trên vào trong bối cảnh tâm lý chung của người thời đó. Ở trên nói đến gió, đến lá vàng là trình bày tâm trạng riêng tư của tác giả đối với những ép buộc của thời thế. Còn hai câu năm và sáu thì cho biết tâm trạng và thái độ của những người khác đối với tâm trạng của tác giả. Tại sao giữa muôn ngàn vạn triệu cảnh vật mùa thu mà Nguyễn Khuyến lại chọn nói đến “từng mây lơ lửng trời xanh ngắt”, với “ngõ trúc quanh co khách vắng teo”, nếu không phải chỉ để nêu lên nỗi niềm cô đơn của mình, trước sự thờ ơ, nhạt nhẽo, hay rẻ khinh, chế diễu của kẻ đương thời ? (xem “ông phỗng đá") Ôi, trời xanh ngát, chỉ có một “từng mây lơ lửng”, cô đon, chẳng biết cùng ai chia sẻ cái nhìn thế sự. Rồi ngõ trúc kia , nhìn mà xem, nó cũng vắng teo, chẳng một ai thèm mang đến cái hoài bão của người Nho Sĩ nhiệt tâm nhưng thất thế. Câu chuyện “câu cá nước trong”, câu chuyện “sóng nước” với “lá vàng”, nói ra mà làm chi, mấy ai hiểu, mấy kẻ cảm thông ? Tả cảnh, nhưng trong cảnh là tình, chỉ biết có cảnh mà bỏ mặc tình thì có phải là tội cho nhà thơ lắm lắm hay không ?    

  
 
Trong hai câu chót còn được gọi là thâu, hạy hợp, thật ra chỉ có câu thứ 7:
 
“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được” là thực sự “thâu tóm” tình cảnh của toàn bài mà thôi.
 
Toàn thể sáu câu trên kết tụ trong sự đợi chờ “tựa gối ôm cần” của người câu cá, như Nguyễn Khuyến đã có lần tâm tình trong “Tự Thọ”:       
 
Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa       
Thử xem Trời mãi thế này ư ?       
 
Ta nhận xét : ông không nói “đời”, mà nói “Trời”, cái ý đã rõ. Sự thay đổi sẽ đến từ Trời, và từ điều mà nhà Nho nghĩ là tượng trưng cho “luật Trời”, tức từ cái Thời. Vì thế, đợi ở đây là đợi thời, đợi Thiên Thời. Hệ Từ của Dịch Kinh có nói :“Quân Tử đãi thời nhi động” (người quân tử đợi thời mà hành động).
 
Thật vậy, có thời để hành động, nhưng cũng có thời phải ngồi yên, như mấy câu trích trong bài thơ của một tên thi sĩ cà chớn :       
 
Tử Nha rung gối chờ câu động       
Phù Đổng vươn vai tỏ chí cao       
Tắc Hạ quy về ôn cố sử      
 
Lam Sơn xuất trướng dựng tân trào(Tắc Hạ là nơi rất nhiều học sĩ thời Chiến Quốc quy tụ về học hỏi trao đổi)       
 
Vậy, chờ đợi là một cung cách xử thế của nhà Nho, và là một thái độ tích cực, có thể phần nào ví như sự đợi chờ của người câu cá, lúc nào cũng sẵn sàng ứng biến. Không chừng khi vẽ lên cảnh đợi chờ này, Nguyễn Khuyến đã nghĩ đến một ông câu lừng danh ở thời Cổ, là Khương Tử Nha, câu cá đợi thời đến rất già (80 tuổi ?) mới ra tài giúp sức lập nên nhà Chu
   
Câu cuối: “Cá đâu đớp động dưới chân bèo” đem tất cả những tình cảnh của toàn bài vừa được gồm thâu trong câu:
      
“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được” mà đặt vào trong một niềm tin, niềm tin nơi chính nghĩa, để đưa người đọc đến một kết luận đầy hy vọng. Đó là: dù cho thời thế khó khăn, dù cho người đơi thờ ơ, dù cho đã chờ “lâu chẳng được”, nhưng, thoang thoảng đâu đây nghe như có tiếng cá đớp động dưới chân bèo, tựa hồ như có dấu hiệu gì của thời cuộc chuyển biến...Hai câu đầu nêu lên một thực tế khách quan, trong khi hai câu cuối đưa đến một niềm tin chủ quan, và trong khi ta đang thấm dần vào cái khung cảnh gẩn như không có lối thoát của bài thơ, thì tác giả đã đột ngột kết thúc bằng một câu cuối đậm màu hy vọng, phủ tràn lên những bi quan của các câu trước. Bài thơ như một vở kịch, đang bế tắc thì thình lình một cái gì bất ngờ xảy đến giải quyết tất cả. Thật khéo. Và cũng thật bổ ích cho những ai đồng cảnh ngộ...    
   
“Trong khủng hoảng, điều ta không còn hy vọng luôn xay đến”       
 
 

Các tin cùng chủ đề: