Nhận diện chân dung nguyên thủy Đức Phật Di Lặc

14:46 | 17/05/2017

Diệu Thủy

Phật Đạo Online: Di Lặc là một vị Bồ Tát còn được gọi là Chuyển Luân Vương. Trong Phật giáo Tây Tạng, Bồ tát Di Lặc được thờ cúng rất phổ biến. 

 

Cũng theo truyền thuyết và kinh điển Phật giáo, Di Lặc là vị Bồ Tát trong lịch sử Phật giáo đạt được giác ngộ hoàn toàn, sẽ xuất hiện trên trái đất, giảng dạy Phật Pháp, giáo hóa chúng sinh, và chứng ngộ thành Phật.

 

Phật Di Lặc sẽ là vị Phật kế thừa Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni. Cõi giáo hóa của Bồ Tát hiện nay là trời Đâu Suất (sa. tuṣita). Bồ Tát Di Lặc được tiên tri sẽ giáng sinh trong kiếp giảm của tiểu kiếp kế tiếp, khi nhân thọ là 80.000 năm, tức khoảng 9 triệu năm nữa theo năm trái đất, khi Phật Pháp đã bị lãng quên trên cõi Diêm phù đề.

 

Sự tích về Phật Di Lặc được tìm thấy trong các tài liệu kinh điển của tất cả các tông phái Phật giáo nguyên thủy - Đại Thừa - Kim Cương Thừa.

 

Nếu năm đức Phật xuất hiện trên trái đất được xem là hóa thân của Ngũ Phật thì Phật Di Lặc được xem như hóa thân của Thành sở tác trí (xem Phật gia, Ngũ Trí).

 

Có thuyết cho rằng, chính Phật Di Lặc là người khởi xướng hệ phái Duy thức của Đại Thừa. Một số học giả cho rằng, vị này chính là  Maitreyanàtha (sa. Maitreya-nātha), thầy truyền giáo lý Duy thức cho Vô Trước (sa. asaṅga).

 

Theo lịch sử Phật giáo Tây Tạng, Ngài là tác giả của năm bài luận, được gọi là Di Lặc (Từ Thị) ngũ luận:

Tên Từ Thị (Maitreya trong tiếng Phạn, hay là Metteyya trong tiếng Pàli) xuất phát từ truyền thuyết: vì muốn giáo hóa các chúng sanh nên từ lúc mới phát tâm, Ngài đã không ăn thịt và không sát sinh.

 

Theo phẩm Tùy Hỷ trong Kinh Pháp Hoa và Kinh Bình Đẳng Giác cho rằng Di Lặc chính là A Dật Đa (tiếng Phạn: Ajita, Hán dịch là Vô Thắng, Vô Năng Thắng hoặc Vô Tam Độc). Ngài là một vị đệ tử của Phật Thích Ca. Thế nhưng, theo Kinh Thuyết Bản trong Trung A Hàm 13, Kinh Xuất Diệu 6 và Luận Đại Tỳ Bà Sa 178, Di Lặc và A Dật Đa là hai nhân vật khác nhau.

 

Trong bài kệ tựa phẩm Bỉ Ngạn Đạo (Pàràyana) của Kinh Tập (Sutta - nipàta) thuộc Đại Tạng Kinh Pàli đều nêu cả hai tên A Dật Đa (Ajita) và Đế Tu Di Lặc (Tissametteyya), lại nói Di Lặc và A Dật Đa hoàn toàn là hai người khác nhau.

 

Từ Thị được đề cập sớm nhất ở Cakavatti (Sihanada) Sutta, Digha Nikaya 26 trong Kinh tạng Pali. Một số kinh Pali khác không có sự xuất hiện của Ngài, dẫn đến việc nghi ngờ tính xác thực của một số bài kinh. Hầu hết các bài giảng của Đức Phật được trình bày ở dạng hỏi đáp, trong đó, đức Phật giải đáp các thắc mắc của đệ tử, hoặc trong một số bối cảnh thích hợp khác. Nhưng kinh này có một khởi đầu và kết thúc, trong đó Đức Phật đang nói chuyện với các nhà sư về một cái gì đó hoàn toàn khác. Điều này dẫn Gombrich đến kết luận rằng một trong hai loại kinh là ngụy tạo, hoặc ít nhất bị giả mạo. 

 

Theo những tài liệu lịch sử Phật giáo thì Đức Phật Di Lặc xuất xứ từ Ấn Độ. Do vậy, những bức tượng Phật Di Lặc được tạc bằng đá có từ thế kỷ thứ 2 ở Ấn Độ. Những bức tượng Di Lặc từ thế kỷ thứ 3 ở Gandhara, bức tượng bằng đồng từ thế kỷ thứ 10 ở bảo tàng Hàn quốc, tượng Di Lặc điêu khắc nghệ thuật bằng đá thế kỷ thứ 9 ở Srivija Nam Sumatra trên đỉnh stupa – Indonesia và nhiều bức tượng Di Lặc bằng đồng, bằng đá ở Ấn Độ, Nepal, Nhật Bản, Bhutan v v... thì Phật Di Lặc nguyên thủy có hình tướng bình thường như những Đức Phật khác.

 

Tranh hoặc tượng Di Lặc nguyên thủy của Ấn Độ, Ngài có tư thế luôn sẵn sàng đứng dậy đi giáo hóa chúng sinh.

 

Chúng ta thấy đặc điểm loại tượng Phật Di Lặc của Trung Quốc có khuôn mặt tròn phị rất “xôi thịt”, phanh áo để lộ cái bụng phè phỡn, luôn ngồi cố định hưởng thụ. Loại tượng này của Trung Quốc tạo ra là hình tướng của Bố đại Hòa thượng từ thế kỷ 10 nên y áo cũng theo kiểu Trung Quốc.

 

Rất tiếc, từ nhiều năm qua hầu hết các chùa Việt Nam lại đều có tượng này mà hàng triệu Phật tử Việt Nam nhầm lẫn là Phật Di Lặc. Thực ra đó là tượng Bố Đại Hòa thượng của Trung Quốc.

 

Xin giới thiệu với các quý Phật tử những bức tượng chân dung Phật Di Lặc nguyên thủy từ thời Đức Phật Thích Ca để cùng nhận diện rõ vị Phật Di Lặc thật của chúng ta và của cả cộng đồng Phật tử thế giới.

 

Tượng Di Lặc Nghệ thuật Gandhara thế kỷ thứ 2 (Tây bắc Ấn Độ xưa)

 

Tượng nghệ thuật Gandhara thế kỷ thứ 3 (Đức Di Lặc ngồi giữa)

 

Tượng Di Lặc bằng đồng từ thế kỷ thứ 7 hiện là quốc bảo

trong bảo tàng Hàn Quốc

 

Tượng Di Lặc bằng đồng nghệ thuật Srivijaya nam Sumatra

trên đỉnh 1 stupa từ thế kỷ thứ 9

 

Tượng Di Lặc ở Tây Tạng thế kỷ thứ 10 

 

Tượng Di Lặc tại Tây Tạng thế kỷ 18

 

Tượng Di Lặc cao hơn 23m tại thung lũntg Nubra Ladakh Ấn Độ tạo tác từ năm 1999

 

Tượng Di Lặc cao hơn 32m ở thung lũng Nubra Ladakh bang Jamu và Kashmir Ấn Độ năm 2010

 

Tượng Di Lặc tại chùa Wat Intharawihan quận Phra Nakhon Bangkok - Thailan

 

Tượng Di Lặc tại Tu viện Lamchen Lhakhang tại stupa Bouddhanath Katmandu

 

Tượng Di Lặc cao 33m mạ vàng tại chùa Beopju Chungcheong

bắc Hàn quốc năm 1990

 

Tượng Di Lặc cổ tại Katmandu - Nepal

 

Hình sưu tầm từ  wikipedia

và trang lịch sử Phật giáo

Các tin cùng chủ đề: